Các bệnh thường gặp trong chăn nuôi trâu, bò

0

BỆNH LỞ MỒM LONG MÓNG
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh do siêu vi trùng gây ra, lây lan mạnh do sự tiếp xúc trực tiếp giữa
trâu bò, dê bệnh với trâu bò, dê mạnh. Cũng có thể lây gián tiếp cho người, súc vật, hoặc thịt thú bệnh được mang từ vùng này sang vùng khác .
TRIỆU CHỨNG:
Trâu, bò, dê bệnh sốt cao 40- 42oC kéo dài trong 2 -3 ngày, ăn ít, nặng nề khi nằm xuống đứng lên, sau 3 – 4 ngày những mụn nước bắt đầu mọc ở niêm mạc miệng, chân và chỗ da mỏng, gia súc cái thường bị mọc mụn ở núm vú, đầu vú.
Mụn nước bằng hạt đậu xanh, hạt bắp có khi lớn bằng đầu ngón tay.
Mụn nước trong vàng, dần dần bị vẩn đục, sau vài ngày thì vỡ ra làm cho niêm mạc bong ra từng mảng thượng bì để lộ những vết loét đỏ. Nếu không bị nhiễm tạp khuẩn những vết loét này trong 2 -3 ngày sẽ hồi phục và thành sẹo. Dịch từ các mụn loét hòa với nước dãi chảy liên tục ra hai bên mép trắng như bọt xà phòng, đôi khi có dính những tia máu. Những vết loét này thành sẹo và hồi phục rất nhanh. Nếu điều kiện vệ sinh và chăm sóc kém, những mụn loét ở quanh móng chân có thể bị nhiễm trùng sinh mủ tạo thành những ổ loét sâu trong móng chân và làm sút móng. Bê nghé thể hiện viêm ruột cấp tính: ỉa chảy nặng, xuất huyết đường tiêu hoá, hoặc viêm phế quản và viêm phổi cấp làm cho bê nghé chết sau 2 -3 ngày.
PHÒNG BỆNH:
– Tiêm vaccin phòng bệnh lở mồm long móng đúng theo type gây bệnh (qua điều tra dịch tể và xét nghiệm mẫu bệnh phẩm) tại điạ phương cho trâu bò lúc 4 tháng tuổi. Ỏ vùng có dịch bệnh xảy ra có thể tiêm sớm hơn lúc trâu bò được 2 tháng tuổi. Tiêm lập lại 6 tháng một lần.
– Khi phát hiện gia súc bệnh, báo ngay cô quan thú y địa phương để được hướng dẫn xử lý.
ĐIỀU TRỊ:
Bệnh không có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu chữa triệu chứng và phòng nhiễm trùng kế phát.
– Dùng Vimekon 1/200 rửa sạch chỗ loét hàng ngày.
– Kết hợp dùng một trong các loại thuốc sau để trị các triệu chứng viêm loét và phòng các bệnh thứ phát.
+ Vime Blue dùng xịt nơi vết thương bị lở loét giúp mau lành da non.
+ Penicilline 4M: 1lọ dùng cho 500 – 1000 kg thể trọng.
+ Ampi 1g: 1lọ dùng cho 100kg thể trọng.
+ Penstrep 1ml/20 kg thể trọng.
Súc vật bệnh mệt nhọc cần tiêm các loại thuốc trợ sức như: Vimekat, Na-Campho, B.Complex ADE, Vitamin C
BỆNH XOẮN KHUẨN
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh do các chủng leptospira gây bệnh cho nhiều loài gia súc và người. Đặc điểm của bệnh là sốt vàng da, đái ra huyết sắc tố hay máu, viêm gan, thận, rối loạn tiêu hóa và có thể bị sảy thai.
Xoắn khuẩn vào cơ thể động vật chủ yếu qua đường tiêu hoá. Động vật ăn uống phải các chất bài tiết, nhất là nước tiểu có xoắn khuẩn sẽ nhiễm bệnh. Vi khuẩn còn có thể xâm nhập qua da và niêm mạc nguyên lành động vật bơi trong nước bẩn có xoắn khuẩn cũng sẽ bị nhiễm bệnh.
TRIỆU CHỨNG:
Thời gian nung bệnh từ 10-20 ngày. Gia súc phát bệnh ở 3 thể:
– Thể quá cấp:
Bệnh phát ra đột ngột, con vật sốt cao, giảm hoặc ngừng nhu động dạ cỏ và ruột, mệt mỏi, mắt lờ đờ thích nằm, kém ăn hoặc bỏ ăn, táo bón. Niêm mạc và da vàng sẫm, nước tiểu cũng vàng. Thể này thường gặp ở gia súc có chửa, vật bệnh chết trong thời gian 3-7 ngày.
– Thể cấp tính :
Thường gặp ở gia súc non, sốt cao 40 – 41o C, mệt nhọc, ít ăn hoặc bỏ ăn, nhu động dạ cỏ giảm. Một số trường hợp sau giai đoạn táo bón, con vật tiêu chảy. Da, niêm mạc vàng sẫm, nước tiểu vàng hoặc nâu vì có huyết sắc tố, đôi khi lẫn cả máu. Mí mắt, môi, má có hiện tượng phù thủng và hoại tử da. Con vật gầy nhanh, lông dựng và thiếu máu nặng. Bệnh kéo dài 5 – 10 ngày, tỉ lệ chết 50 – 70%.
– Thể mãn tính :
Xảy ra trên trâu, bò, dê mọi lứa tuổi. Vật bệnh chỉ thể hiện gầy yếu, lông rụng, thiếu máu, đôi khi có phù thủng ở mặt, ở yếm ngực, nước tiểu vàng, tiêu chảy dai dẳng. Gia súc chữa có thể bị sảy thai.
PHÒNG BỆNH:
– Cần xét nghiệm huyết thanh học xác định chủng leptospira gây bệnh tại địa phương để chọn loại vaccine tiêm phòng phù hợp. Hiện nay thường dùng là vaccin chết gồm 6 chủng gây bệnh phổ biến tại Việt Nam. Ngoài phòng bằng vaccin nên kết hợp với chẩn đoán để phát hiện gia súc bệnh kịp thời cách ly tránh lây lan.
– Vệ sinh sát trùng chuồng trại bằng Vimekon 1/200 định kỳ 15 ngày/lần.
– Chú ý diệt chuột trong khu trại chăn nuôi vì chuột mang mầm bệnh và làm lây lan bệnh giữa các khu trại.
– Kiểm tra huyết thanh học định kỳ để xử lý các trường hợp bệnh mãn tính.
ĐIỀU TRỊ:
Có thể sử dụng một trong các loại kháng sinh sau
– PenStrep 1g/ 20 kg thể trọng lượng
– Marbovitryl 1ml/10kg thể trọng.
– Vime-sone 1ml/10kg thể trọng
Kết hợp thuốc kháng viêm Ketovet hoặc Dexamethasone và các thuốc trợ sức như Vitamin C, B.complex fortified để tăng hiệu quả trong điều trị.
TỤ HUYẾT TRÙNG
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh gây ra do vi khuẩn Pasteurella multocida. Vi khuẩn có sức đề kháng mạnh, tồn tại rất lâu trong chuồng trại và đất ẩm thiếu ánh sáng. Bệnh xảy ra quanh năm và thường tập trung vào mùa mưa lúc khí hậu nóng ẩm và những lúc giao mùa thời tiết thay đổi đột ngột, sức đề kháng gia súc bị suy giảm. Ở nước ta trâu mắc bệnh nhiều và nặng hơn bò. Trâu thường chết do bệnh quá cấp tính. Súc vật non đang bú mẹ ít mắc bệnh hơn súc vật trưởíng thành. Súc vật 2 -3 tuổi mắc bệnh dễ hơn súc vật già.
TRIỆU CHỨNG:
– Thể ác tính:
Con vật đột nhiên lên cơn sốt cao 41-42oC và trở nên hung dữ điên loạn đập đầu vào tường, có thể chết trong 24 giờ. Ở một số bê nghé 3 – 18 tháng có triệu chứng thần kinh: giãy giụa rồi ngã xuống đất chết. Có khi con vật đang ăn cỏ chạy lồng lên run rẩy, ngã xuống và lịm đi.
– Thể cấp tính:
Thể này xảy ra chủ yếu ở trâu bò, thời gian nung bệnh ngắn từ 1 -3 ngày, con vật không nhai lại mệt lả, bứt rứt, sốt cao đột ngột 40 – 42oC. Các niêm mạc mắt mũi đỏ sẫm rồi tái xám. Nước mũi chảy liên tục. Các hạch lâm ba đều sưng, đặc biệt là hạch lâm ba dưới hầu sưng rất to, làm cho con vật lè lưỡi ra, thở khó người ta còn gọi là trâu bò hai lưỡi . Hạch lâm ba trước vai, trước đùi sưng, thủy thủng làm con vật đi lại khó khăn. Vật bệnh thở mạnh và khó khăn do viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, có tụ huyết và viêm phổi cấp.
Một số trâu bò có triệu chứng bệnh ở đường ruột, lúc đầu phân táo bón, sau tiêu chảy dữ dội, phân có lẫn máu và niêm mạc ruột. Bụng chướng hơi do viêm phúc mạc và có tương dịch trong xoang bụng. Giai đoạn cuối con vật nằm liệt, đái ra máu, thở rất khó khăn, có nhiều chấm xuất huyết đỏ sẫm ở các niêm mạc. Bệnh tiến triển 3 – 5 ngày, tỉ lệ chết từ 90 – 100%.
– Thể mãn tính:
Vật bệnh thể hiện viêm ruột mãn tính: lúc tiêu chảy, lúc táo bón, viêm khớp làm con vật đi lại khó khăn, viêm phế quản và viêm phổi mãn tính. Bệnh tiến triển trong vài tuần, các triệu chứng nhẹ dần nhưng thường con vật gầy rạc và chết do kiệt sức.
Bệnh tích:
Tụ huyết và xuất huyết lấm chấm từng mảng ở niêm mạc mắt, miệng, mũi, tổ chức dưới da.
Hệ thống hạch lâm ba sưng to, thủy thủng và xuất huyết, rõ nhất là hạch lâm ba sau hầu, vai và trước đùi. Tim sưng to, trong bao tim, màng phổi, xoang ngực, xoang bụng đều có tương dịch. Nếu con vật bị bệnh thể đường ruột thì thấy chùm hạch ruột sưng to, có xuất huyết, niêm mạc ruột tụ huyết, xuất huyết nặng và niêm mạc ruột bị tróc ra.
PHÒNG BỆNH:
– Phòng bệnh tụ huyết trùng trâu bò bằng cách tiêm vaccin tụ huyết trùng trâu bò Robert 1 do Công ty thuốc thú y TW2 sản xuất lúc 6 tháng tuổi, thời gian miễn dịch 6 tháng do đó phải tái chủng lại 6 tháng 1 lần.
– Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng và vệ sinh phòng bệnh nhất là trong lúc giao mùa và thời gian bị ngập lũ.
ĐIỀU TRỊ:
Khi phát hiện bệnh tụ huyết trùng phải điều trị sớm bằng một trong các loại kháng sinh sau:
-Vime-Spiro F.S.P : tiêm bắp liên tục 3 ngày, 1ml/ 10-15kg P/ ngày
– Marbovitryl : tiêm bắp , liên tục 3 ngày 1ml/ 10-12kg P/ ngày
– Dilog : tiêm bắp liên tục 3 ngày, 1ml/15-20kg P/ngày
– Ngoài ra nên kết hợp với các loại thuốc trợ sức để tăng sức đề kháng như: B.Complex Fortified, B.Complex AD3E, .
BỆNH VIÊM BUỒNG TRỨNG
NGUYÊN NHÂN:
Đa số trường hợp viêm buồng trứng là do kế phát từ bệnh viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng và viêm phúc mạc. Các vi khuẩn gây viêm lan truyền từ tử cung lên ống dẫn trứng vào buồng trứng hoặc từ phúc mạc lan sang. Những vi khuẩn gây viêm thường gặp là: tụ cầu Staphylococcus, liên cầu Streptococcus, E.coli, Proteus vulgaris
TRIỆU CHỨNG:
Trâu bò không động dục khi đến chu kỳ rụng trứng. Các vi khuẩn gây viêm, sưng thủng buồng trứng, có thể gây mủ. Giai đoạn đầu con vật đau đớn khi thăm khám buồng trứng qua trực tràng, buồng trứng to gấp 2-3 lần bình thường. Sau đó, buồng trứng bị bã đậu và can xi hoá chỗ viêm, buồng trứng nhỏ lại nhưng rắn và xơ cứng. Nếu con vật chỉ viêm một bên buồng trứng thì vẫn thấy chu kỳ động dục và phối giống được nhưng ít thụ thai hơn súc vật cái bình thường.
PHÒNG BỆNH:
– Vệ sinh cuồng trại và bãi chăn thả.
– Điều trị kịp thời các bệnh viêm đường sinh dục ở gia súc cái.
ĐIỀU TRỊ:
– Tiêm bắp một trong các loại kháng sinh sau, liên tục 3 -5 ngày.
– Amoxi 15%LA: 1ml/10kg thể trọng.
– Penstrep 1ml/20kg thể trọng.
– Marbovitryl 1ml/10kg thể trọng
Kết hợp kháng viêm Ketovet 1ml/16kg thể trọng hoặc Dexametasone 1ml/20kg thể trọng
– Tiêm các thuốc trợ sức: Vitamin C, B.Complex, Campho-Na trong quá trình điều trị để gia súc mau bình phục.
BẠI LIỆT TRƯỚC KHI ĐẺ
NGUYÊN NHÂN:
Do nuôi dưỡng kém trong giai đoạn gia súc mang thai, nhất là trong khẩu phần thiếu can xi (Ca) và phốt pho (P), gia súc sẽ huy động chất khoáng trong xương để cung cấp cho bào thai làm chân yếu và bại liệt.
TRIỆU CHỨNG:
Đầu tiên hai chân sau có dấu hiệu suy yếu, đi đứng khó khăn sau đó gia súc nằm không đứng được. Bại liệt kéo dài gia súc bị teo cơ chân, phần thân tiếp xúc nền chuồng bị thối loét.
PHÒNG BỆNH:
– Chuồng trại rộng rãi đủ chỗ cho gia súc vận động và tắm nắng ban mai.
– Cho gia súc mang thai ăn khẩu phần cân đối dinh dưỡng, treo đá liếm trong chuồng cho gia súc bổ sung tự do chất khoáng.
– Tiêm Poly AD 10ml/con và Vimekat 20ml/con , tiêm 3 – 4 lần trong suốt giai đoạn trâu bò mang thai.
ĐIỀU TRỊ:
Tiêm tĩnh mạch Vime-calamin 1ml/4kg trọng lượng.
– Cho gia súc nằm nơi khô ráo có lót rơm, trở mình 3 – 4 lần/ngày, nâng tập cho gia súc đứng lên ngày 2 -3 lần, mỗi lần 2 – 3 giờ.
– Tiêm Strychnal –B1 1ml/20kg trọng lượng và các thuốc trợ sức như Vitamin C, B.complex trong quá trình điều trị.
BỆNH GIUN ĐŨA
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh do giun đũa Toxocara gây ra, thường xảy ra ở bê, nghé dưới 2 tháng tuổi, bò trưởng thành không nhiễm do có sự đề kháng tự nhiên, ở dê có cả ở con nhỏ và con trưởng thành. Bệnh lây nhiễm qua đường tiêu hoá do nuốt phải trứng giun. Bê, nghé có thể nhiễm giun đũa từ con mẹ qua nhau thai từ khi là bào thai.
TRIỆU CHỨNG:
Bê nghé bệnh có dáng đi lù đù, chậm chạp, lưng cong, đuôi cụp, lông xù. Bệnh nặng con vật nằm một chỗ, thở yếu, nằm ngửa, giãy giụa, đập chân lên phía bụng. Phân lỏng màu trắng mùi rất thối, gầy yếu, có triệu chứng thần kinh, bê nghé gầy sút nhanh thường chết từ 7 – 16 ngày sau khi phát bệnh.
Ấu trùng giun đi qua phổi có thể gây tụ huyết hay viêm phổi. Có thể thấy mụn nước hay mụn mủ ngoài da về sau đóng vẩy. Giun sống nhiều trong ruột có thể gây tắt ruột, tắt ống dẫn mật, ống tuyến tuỵ, đôi khi lồng ruột.
Khi con vật sốt cao do bệnh khác, giun có thể trườn lên dạ dày, thực quản, miệng hoặc từ yết hầu vào thanh quản, khí quản, phổi gây ngạt thở.
PHÒNG BỆNH:
Xổ lãi cho bê nghé ở vùng có bệnh lúc 20 ngày tuổi hoặc một tháng tuổi bằng Vemectin hoặc Levavet.
Chuồng trại sạch sẽ khô ráo, định kỳ tiêu độc chuồng trại, ủ phân diệt trứng giun trước khi sử dụng làm phân bón cây trồng. Rơm cỏ phải xử lý ngâm dung dịch Vimekon hoặc thuốc tím 1/1000 để diệt trứng giun.
ĐIỀU TRỊ:
Tiêm thuốc tẩy trừ giun bằng 1 trong 2 loại sau: – Levavet : 1ml/15 kg thể trọng.
– Vemectin: 1ml/ 15kg thể trọng.
Kết hợp các loại thuốc trợ sức giúp tăng cường sức đề kháng như Vitamin C, B.complex, Poly AD.

BỆNH NẤM DA LÔNG
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh do một số loài nấm ký sinh ở da và lông gây ra, trong điều kiện nóng ẩm của nước ta bệnh thường xảy ra ở bê, nghé dưới một năm tuổi. Các khuẩn ty và bào tử nấm xâm nhập vào da lông do gia súc tiếp xúc môi trường chuồng trại, bãi chăn thả, dụng cụ, thức ăn có mầm bệnh hoặc gia súc đang bị nhiễm nấm.
TRIỆU CHỨNG:
Thể hiện ba dấu hiệu đặc trưng:
– Các mụn sùi loét trên da có phủ vảy vàng xám hoặc nâu sẫm, cạy vảy ra, phía dưới có loét đỏ. Các đám da sần sùi loét có thể tập trung từng đám hoặc riêng rẽ.
– Các đám da bị sần sùi, nhăn nheo, dầy cộm trên mặt da nhưng không bị lở loét, lông rụng từng đám.
– Trên da nổi các mụn cóc to nhỏ khác nhau bị sừng hoá sần sùi màu xám hoặc nâu nhạt rải rác ở hai bên sườn, mông, vai và thường gặp ở bê, nghé 6 – 12 tháng tuổi.
PHÒNG BỆNH:
– Tắm chải gia súc hàng ngày
– Chuồng trại khô ráo, tháng mát, có sân bãi chăn thả cho gia súc tắm nắng. Định kỳ sát trùng chuồng trại bằng Vimekon 1/200, 15 ngày/lần.
– Thường xuyên kiểm tra phát hiện gia súc bệnh để cách ly điều trị.
ĐIỀU TRỊ:
– Dùng Vimekon pha nồng độ 1/100 bôi vào các đám da lông bị nấm, mỗi ngày 1 – 2 lần, bôi liên tục cho đến khi khỏi bệnh.
– Phối hợp tiêm Penstrep – suspension 1ml/20kg thể trọng và Vemectin 1ml/15kg trọng lượng để phòng nhiễm trùng và ve. ghẻ gây bệnh kế phát
– Giữ không cho ruồi, mòng bu đậu và tiêm thêm Poly AD để chỗ da tổn thương chóng hồi phục.

HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh thường xảy ra ở bê, nghé non dưới 6 tháng tuổi và vào mùa mưa ẩm làm bãi chăn, chuồng trại bị ô nhiễm. Bệnh có thể do nhiều nguyên nhân: Do nhiễm vi khuẩn gây viêm ruột, nhiễm virus (thường là virus Parvo ở bê non), do ký sinh trùng (giun đũa, sán lá gan), do thức ăn nhiều đạm nhiều béo hoặc thức ăn ôi mốc.
TRIỆU CHỨNG:
Gia súc uống nhiều nước, ăn ít hoặc bỏ ăn, không nhai lại sau đó ỉa lỏng, đầu tiên phân sệt sau đó vài ngày sau ỉa chảy nặng phân chỉ là dịch màu xám xanh, xám vàng có mùi tanh, vật bệnh bị mất nước nhanh, da nhăn nheo. Trường hợp nặng gia súc bị xuất huyết ruột, phân lẫn máu và niêm mạc lầy nhầy
PHÒNG BỆNH:
-Vệ sinh thức ăn nước uống và định kỳ tiêu độc chuổng trại bãi chăn thả bằng Vimekon 1/200.
– Định kỳ tẩy trừ giun sán ký sinh đường tiêu hóa bằng Vimectin và Vime-Fasci mỗi năm 2 lần.
-Tiêm Vimekat định kỳ để gia tăng thể lực, tăng sức đề kháng bệnh tật .
ĐIỀU TRỊ:
– Cần kiểm tra lại nguyên nhân gây bệnh là vi khuẩn, virus, ký sinh trùng hay thức ăn để có biện pháp điều trị thích hợp. Trước mắt:
– Cách ly con bệnh, cho ăn nhẹ, giảm lượng rơm cỏ, cho ăn thêm cháo gạo, vệ sinh chuồng trại.
– Cho uống tự do Veme – Electrolyte 1g/4 lít nước để bù nước và cân bằng chất điện giải. Nếu tiêu chảy nặng cần truyền nước sinh lý để chống mất nước.
– Nếu tiêu chảy phân hôi thối hoặc lẫn máu cần tiêm vitamin K 1ml/20kg trọng lượng để cầm máu và Marbovitryl 1ml/10kg trọng lượng để phòng nhiễm trùng kế phát và tiêm Poly AD 1ml/20kg thể trọng giúp hồi phục niêm mạc ruột bị tổn thương.
BỆNH VIÊM MÀNG PHỔI
Nguyên nhân:
Bệnh viêm phổi màng phổi truyền nhiễm trên bò (Contagious Bovine Pleuropneumonia – CBPP) do Mycoplasma mycoides subsp. mycoides SC (bovine biotype) gây ra. Mycoplasma là những vi khuẩn không có vách tế bào cho nên chúng đa hình thái và đề kháng với kháng sinh thuộc nhóm beta-lactamine như penicilline. CBPP lan rộng ở Châu phi và cũng hiện diện ở các vùng khác trên thế giới như nam châu Âu, trung đông và một phần châu Á.
Sự truyền lây:
Trong điều kiện tự nhiên, CBPP truyền trực tiếp từ vật nhiễm sang các bò nhạy cảm do tiếp xúc qua hơi thở, ho có chứa M.mycoides. Bò phơi nhiễm nếu nhạy cảm có thể phát triển thành CBPP ít nhất sau 6 tháng. Trong ổ dịch có khoảng 40 % bò phơi nhiễm bị phát bệnh, tỉ lệ chết từ 10 – 70 %. Bệnh lây truyền chậm. CBPP rất dễ được truyền lây trong giai đoạn sớm của bệnh, ngay trong thời kỳ ủ bệnh (trước khi có triệu chứng) qua hơi thở. Một số bò trở thành vật mang trùng, chúng không có dấu hiệu bệnh, nhưng nguy nhiểm do gieo rắc mầm bệnh vào vùng chưa nhiễm và hầu hết các ổ dịch mới thường bắt nguồn từ vật mang trùng hoặc gia súc trong thời kỳ ủ bệnh có vẻ ngoài khoẻ mạnh.
Triệu chứng:
Bò là loài nhiễm tự nhiên với bệnh CBPP. Trong ổ dịch có 33 % gia súc có triệu chứng, 46 % nhiễm nhưng không có triệu chứng, 21 % đề kháng. Bò nhạy cảm thường phát thành triệu chứng sau 3-6 tuần phơi nhiễm, nhưng với bò nhạy cảm cao triệu chứng phát triển trong vòng 10-14 ngày. Có 3 thể bệnh:
– Thể cấp tính: Là thể phổ biến nhất và thường đưa đến tử vong, gia súc còn sống sót gầy sút. Thân nhiệt gia súc nhiễm trùng đột ngột tăng cao, bỏ ăn, lượng sữa giảm ở bò cho sữa. Bò thở nhanh và sâu, sau đó bò ho thường xuyên, cuối cùng là ho khô, có dịch mủ. Quá trình diễn tiến bệnh: bò tỏ vẻ đau đớn khi hít vào và thở ra. Tư thế điển hình của bệnh thể hiện qua: đầu cúi thấp hơn, lưng cong hình vòm, các điểm khớp khuỷu dang xa để giản rộng lồng ngực, mồm há to để dễ thở. Thường vi khuẩn xâm lấn chỉ một phổi. Giống như sự phát triển của bệnh viêm phổi màng phổi, phổi bị viêm và sưng. Trong trường hợp chết, khí đi qua các tiểu phế nang đầy niêm dịch, thân phổi trở nên cứng với sợi dính mô, theo sau bởi sự chết của mô phổi. Gia súc chịu đựng sự thiếu khí. Mô sợi nối bình thường không gắn nối mặt ngoài của phổi với mặt trong vách xoang ngực. Lượng lớn dịch có thể làm đầy khoan xoang ngực, mô phổi bị vỡ ra. Rồi thì bò bị giảm cân, trở nên suy kiệt, ngừng nhai lại. Phù nề hoặc sưng phát triển ở họng, yếm bò. Bò có thể bị bại chân (sụm xuống), không đứng được trước khi chết. Từ lúc có dấu hiện đầu tiên đến khi chết có thể kéo dài 2-5 tuần.
– Thể quá cấp tính: Thể quá cấp của bệnh CBPP không phổ biến. Bò ở thể nầy phát triển nhiều triệu chứng như thể cấp tính nhưng triệu chứng viêm phổi trầm trọng hơn. Cái chết đến sau 1-3 tuần có triệu chứng.
– Thể mãn tính: Bò thường không có triệu chứng bệnh, chúng trở thành vật mang trùng và tiếp tục truyền lây CBPP. Thường thể nầy không gây chết trong nhiều năm, nhưng bất cứ lúc nào khi có áp lực stress sẽ làm phát triển thành bệnh thể cấp tính
*Chẩn đoán phân biệt:
– Các bệnh viêm phổ do vi khuẩn khác, thí dụ Tụ huyết trùng
– Viêm phổi do thuốc xông
– Nhiễm sán lá mãn
– Chấn thương ngoại tâm mạc
– Viêm phổi kẽ không điển hình
Bệnh tích:
Viêm dính phổi màng phổi, có sợi tơ huyết (fibrin): Lượng lớn dịch tiết màu vàng hay đục trong xoang ngực đông (có khi đến 30 lít) hình thành các khối tơ huyết to. Màng phổi dầy và viêm sưng với các sợi tơ. Phù nề ứ dịch giữa các tiểu thùy, hiện tượng hoa vân xuất hiện do sự gan hóa, Mảnh mục rữa với các mô hoại tử màu nâu xung quanh các ổ xơ.
Phòng bệnh:
– Tránh các yếu tố stress cho gia súc: quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng tốt (khi thời tiết quá khô nóng thì che chắn cho bò hoặc tìm chỗ trú có bóng mát, không thay đổi khầu phần quá đột ngột, bổ sung thức ăn tinh trong khẩu phần nhất là bò lấy sữa…)
– Bổ sung Premix vitamin, khoáng để tăng cường sức khoẻ cho bò, tránh thiếu chất, có thể sử dụng bánh đá liếm, bột Premix qua ủ chua, kiềm hóa thức ăn thô xanh, thô khô,…
– Chú ý chăn nuôi an toàn sinh học: Cách ly gia súc với nguồn lây truyền bệnh, tránh khách thăm viếng, tham quan, tránh mượn dụng cụ, xe cộ ở các trại chăn nuôi khác,…
– Thực hiện tiêu độc sát trùng chuồng trại triệt để:
+ Bố trí hố tiêu độc ở mỗi cửa chuồng/ trại (bằng vôi bột hoặc dung dịch thuốc sát trùng)
+ Định kỳ tiêu độc: Khi có nguy cơ dịch tiêu độc mỗi ngày 1 lần liên tục 3-7 ngày, bình thường định kỳ tiêu độc mỗi tuần hoặc 2-3-4 tuần/ lần.
Thuốc sử dụng:
. Vime- Protex pha 100ml/ 20 lít nước (phun khi chuồng không có gia súc hoặc lối đi, xung quanh trại)
. Vime-Iodine pha 75ml/ 20 lít nước phun trong chuồng cả khi có gia súc
. Vimekon pha 100 ml/ 20 lít nước phun trong chuồng cả khi có gia súc
– Tiêm phòng: Bố trí tiêm phòng các loại bệnh đã có vaccin:
. Tụ huyết trùng trâu bò (do Cty thuốc thú y TW 2 sản xuất): tiêm lần đầu cho bò trên 4 tháng tuổi, nên lập lại liều thứ 2 sau đó 4 tuần để tăng cường miễn dịch, tái chủng mỗi 6 tháng/ lần.
. Vaccin CBPP: chỉ có ở những nước có dịch địa phương CBPP
– Chú ý kiểm tra ký sinh trùng (nội, ngoại ký sinh) bằng cách bố trí tẩy giun sán định kỳ chặt chẻ
Điều trị:
Mycoplasma mycoides mycoides (SC-type) nhạy cảm với nhiều loại kháng sinh: Streptomycine, Oxytetracycline, Florfenicol. Tuy nhiên liệu pháp kháng sinh chỉ làm cắt ngang đến làm chậm quá trình bệnh hoặc có thể ngay cả trong các trường hợp hình thành mãnh xương mục (trong những trường hợp gia súc bị bệnh mãn tính hoặc là vật mang trùng vi sinh vật).
Không sử dụng kháng sinh nhóm Beta – lactam.
– Kháng sinh: giới thiệu:
+ Vime-Sone: 1ml/10 kg thể trọng, ngày 1 lần, liên tục 3-5 ngày.
+ hoặc Vimefloro FDP: 1ml/10 kg thể trọng, ngày 1 lần, liên tục 3-5 ngày.
+ hoặc Vimespiro FSP: 1ml/10 kg thể trọng, ngày 1 lần, liên tục 3-5 ngày.
– Trị triệu chứng, kháng viêm:
+ Vime-Liptyl: 1ml/10-12 kg thể trọng, ngày 1 lần, liên tục 3-5 ngày.
+ Ketovet : 1ml/ 16-25 kg thể trọng ngày 1 lần, liên tục 3-5 ngày (hạn chế với bò có thai)
– Thuốc trợ sức: Vime – Canlamin: 1ml/ 10 kg thể trọng hoặc Vimekat: 1ml/ 10 kg thể trọng (5 ngày 1 lần)
BỆNH LAO
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh lao là bệnh truyền nhiễm mãn tính của nhiều loài động vật và người, bệnh do vi khuẩn lao Mycobacterium tubercula. Bệnh thường xảy ra ở trâu bò nuôi lấy sữa với các bệnh tích đặc biệt (các hạt lao) trong phổi và các phủ tạng khác. Vi khuẩn lao có 4 chủng chính có thể lây chéo với nhau từ loài động vật này sang loài động vật khác. Vi khuẩn lao có trong mủ, dịch bài tiết, nước tiểu, sữa, phân gia súc bệnh và lây truyền qua đường hô hấp hoặc tiêu hóa.
TRIỆU CHỨNG:
– Lao phổi: Biểu hiện rõ nhất là ho khan, ho từng cơn. Gia súc bệnh gầy sút nhanh, lông dựng đứng, da khô, mất khả năng sinh sản. Bệnh nặng có thể ho ra máu.
– Lao hạch: Hạch sưng cứng, sờ thấy lổn ngổn, cắt hạch ra thấy hiện tượng bã đậu. Các hạch hay bị lao là hạch trước vai, hạch trước đùi, hạch dưới hàm và hạch trước tuyến tai. Hạch ruột bị lao thường làm cho con vật rối loạn tiêu hóa. Hạch lao ở sát dây thần kinh tứ chi có thể làm con vật đi lại khó khăn hoặc bị què.
– Lao vú : Thường xảy ra ở trâu, bò, dê cái lấy sữa. Sự phát triển của vi khuẩn lao trong tuyến sữa làm cho bầu vú, núm vú bị biến dạng, sờ vào có thể thấy hạt lao lổn ngổn. Chùm hạch vú bị sưng to, cứng và nổi cục.
– Lao ruột : vật bệnh tiêu chảy dai dẳng, phân tanh khẳm, hết đợt tiêu chảy phân lại táo bón, làm cho con vật gầy dần, đôi khi con vật còn bị chướng hơi dạ cỏ.
Bệnh tích
Các hạt lao thể hiện rõ ở phổi, màng treo ruột và đôi khi có ở cơ bắp. Nếu hạt lao có nhiều trong phổi khi nắn các thuỳ phổi ta có cảm giác như phổi có trộn cát, cắt ra có tiếng lạo xạo. Dần dần các hạt thoái hóa biến thành chất bã đậu có màu vàng hay trắng đục. Hạt lao có thể vỡ ra, nếu không vỡ thì tổ chức xung quanh hạt tăng sinh và tạo thành hạt xơ.
Các hạt lao lớn dần có khi bằng quả táo hay quả ổi. Hạt có khuynh hướng bã đậu hóa, canxi hóa, thành khối tăng sinh thượng bì.
Tùy thuộc vào sự phát triển của bệnh, các bệnh tích bã đậu có thể thuần nhất trên một cơ quan. Trên thực tế cùng một cơ quan có thể thấy nhiều dạng bệnh tích khác nhau.
PHÒNG BỆNH:
Phòng bệnh bằng vaccin B.C.G (Bacterium Calmetla Guerin), tiêm vào lúc 15 ngày tuổi. Tuy nhiên hiện nay người ta ít dùng vì làm trở ngại cho việc chẩn đoán bệnh lao. Biện pháp chủ yếu là phòng bệnh bằng vệ sinh chăm sóc.
– Thực hiện phản ứng dò lao Tuberculin test để phát hiện gia súc bệnh, nếu gia súc bị lao thì phải loại thải để tránh lây nhiễm cho gia súc khỏe trong đàn.
– Định kỳ tổng vệ sinh chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng như: Vime-Protex, Vime-iodin hoặc Vimekon 15 ngày/lần.
– Tăng cường nuôi dưỡng và chăm sóc tốt gia súc để nâng cao thể trạng và sức đề kháng đối với bệnh.
ĐIỀU TRỊ:
Có thể điều trị gia súc bị lao bằng kháng sinh kết hợp với chăm sóc bồi dưỡng. Nhưng trong thực tế, khi phát hiện gia súc bị lao thì nên loại để tránh lây nhiễm trong đàn.
BỆNH SÁN LÁ GAN
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh do sán lá Fasciola gigantica và F.hepatica ký sinh ở gan và mật, bệnh xảy ra ở hầu hết các loài thú kể cả người. Sán có giai đoạn ấu trùng ký sinh ở loài ốc nước ngọt (ốc limnea – loại ốc nhỏ bằng hạt đậu bám trên cây cỏ thủy sinh). Khi trâu bò ăn phải rau cỏ có ốc linnea đeo bám, vào cơ thể gia súc, ấu trùng phát triển thành sán trưởng thành.
TRIỆU CHỨNG:
– Thể mãn tính: Trâu bò vật bệnh gầy còm, suy nhược thiếu máu, tiêu chảy kéo dài làm cho con vật mất dần khả năng cày kéo và sinh sản.
– Thể cấp tính: Trâu bò bệnh bỏ ăn, chướng hơi dạ cỏ, sau đó tiêu chảy dữ dội, phân loãng xám có mùi tanh. Sau vài ngày, con vật bệnh nằm bệt không đi được và chết trong tình trạng mất nước, rối loạn điện giải và kiệt sức. Hiện tượng này thường xảy ra ở bê nghé dưới 6 tháng tuổi. Ở bê, nghé bệnh thường nặng hơn do bê, nghé bị nhiễm thứ phát các vi khuẩn gây bệnh có sẵn trong dạ dày và ruột như Salmonella, E.Coli, …
PHÒNG BỆNH:
– Định kỳ kiểm tra phân và tẩy sán lá gan 2 lần/ năm cho toàn đàn, sử dụng luân phiên. thay đổi bằng Vime- ONO (thuốc uống) và Vime- Facsi (thuốc tiêm) để tránh hiện tượng kháng thuốc. – Ủ phân để diệt trứng và ấu trùng giun sán.
– Diệt ký chủ trung gian : Dùng Sulfate đồng (CuSO4) nồng độ 3 – 4 %o phun vào cây thủy sinh, cỏ mọc nước để diệt các loài ốc Limnea tránh truyền lan mầm bệnh.
– Khi cắt cỏ cho trâu bò ăn chú ý không cắt phần chìm trong nước.
ĐIỀU TRỊ:
– Dùng Vime- Fasci : tiêm dưới da 1ml/ 30-35kg thể trọng, tiêm 1 liều duy nhất. Để trị bệnh 15 ngày sau có thể tiêm thêm 1 liều.
– Kết hợp các thuốc trợ sức để tăng sức đề kháng như Vitamin C, B.complex, Nacampho.
BỆNH VIÊM VÚ
NGUYÊN NHÂN:
Do nhiễm khuẩn qua các tổn thương ở bầu vú và núm vú, chủ yếu là do nhiễm các vi khuẩn : Streptococcus, Staphylococcus, Bacillus, E.Coli. Nấm Cida albicans cũng gặp trong nhiều trường hợp viêm tuyến sữa. Bệnh cũng có thể do kế phát từ các bệnh viêm âm đạo, tử cung.
Vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào tuyến vú qua các tổn thương ở bầu vú, núm vú do vắt sữa bằng máy, bằng tay không vô trùng sạch hoặc do bê, nghé con khi bú. Sữa là môi trường rất tốt cho vi khuẩn và nấm phát triển, gây ra các ổ viêm phá hoại tổ chức tuyến sữa. Trong các trường hợp nặng, bệnh viêm vú có thể dẫn đến viêm phúc mạc kế phát và nhiễm trùng huyết.
TRIỆU CHỨNG:
– Viêm vú thể tương mạc: Vú bị sưng ở một thuỳ hay toàn bộ do vi khuẩn phát triển thành các ổ viêm. Con vật có phản ứng đau khi ấn mạnh tay vào bầu vú. Lượng sữa giảm rõ rệt ở thuỳ bị sưng. Khi bệnh lan rộng trong tuyến sữa sẽ thấy sữa loãng và có những hạt lổn nhổn.
– Viêm vú thể cata: Tế bào thượng bì biến dạng và bị tróc ra. Ổ viêm có dịch thẩm xuất, dịch này cùng với bạch cầu tạo ra một màng phủ trên niêm mạc đường tiết sữa. Khi vắt sữa màng này có thể tróc ra, lẫn vào trong sữa, tạo ra cặn sữa hoặc cục sữa vón. Đôi khi cặn sữa này làm tắc ống dẫn sữa. Bình thường thể viêm cata ít làm cho bầu vú sưng, nhưng làm cho núm vú to thêm do biểu bì dầy lên. Kiểm tra bằng tay sẽ thấy đầu vú và tuyến vú có những cục mềm bên trong.
– Viêm vú có mủ: Các vi khuẩn gây mủ tạo ra các ổ viêm lan tràn trong tuyến vú nên bể sữa, ống tiết sữa đều chứa mủ và dịch thẩm xuất. Con vật thể hiện triệu chứng toàn thân, sốt cao 40- 41oC, mệt mỏi, kém ăn. Bầu vú và núm vú sưng đỏ từng thuỳ hay toàn bộ. Sờ tay thấy nóng, ấn vào con vật có phản ứng đau. Lượng sữa giảm hay ngưng hẳn. Sữa loãng, có màu hồng do sung huyết và xuất huyết tuyến sữa, sau đó sữa có lẫn các cục sữa vón và dịch mủ, màu vàng hay vàng nhạt.
Qua thời kỳ cấp tính bầu vú giảm hiện tượng sưng đỏ, giảm đau nhưng lượng sữa vẫn ít và loãng có các cặn mủ và nhớt, màu vàng nhạt.
– Viêm vú có máu: Các tổ chức của ống tiết sữa bị xuất huyết và tụ huyết. Bệnh thường ở thể cấp tính, sốt cao 40- 41oC kéo dài hàng tuần, mệt mỏi và kém ăn. Bầu vú sưng to một bên hoặc toàn thể. Trên bầu vú có từng đám tụ huyết màu đỏ sẫm. Con vật đau đớn khi ta ấn tay vào bầu vú. Lượng sữa giảm hoặc ngưng. Sữa loãng có màu hồng, có khi loãng như máu do xuất huyết trong tuyến sữa. Bệnh tiến triển nhanh, biến chứng thường gặp là nhiễm trùng huyết và súc vật bệnh sẽ chết sau 7-9 ngày.
Có thể tóm tắt để chẩn đoán bốn thể viêm vú như sau :
– Viêm vú thể tương mạc: sốt nhẹ, sữa loãng, có vón nhẹ lổn nhổn.
– Viêm vú cata: tế bào thượng bì tuyến vú biến dạng, tróc ra, sữa loãng có cặn, sốt nhẹ hoặc không sốt.
– Viêm vú có mủ: bầu vú sưng đỏ đau, sốt cao, sữa có mủ.
– Viêm vú có máu: bầu vú sưng có tụ huyết, sốt cao, sữa có máu.
PHÒNG BỆNH:
– Vệ sinh chuồng trại và rửa sạch bầu vú sau khi vắt sữa và hai chân sau bằng dung dịch Vimekon 1/200.
– Khi vắt sữa phải thao tác nhanh, không để tồn đọng sữa trong bầu vú.
– Dụng cụ vắt sữa phải cọ rữa sát trùng hàng ngày, tay người vắt sữa phải bảo đảm vệ sinh.
ĐIỀU TRỊ:
– Vắt cạn sữa sữa vú viêm, chườm nóng kết hợp xoa bóp nhẹ vài lần/ ngày cho vú mềm dần.
– Tiêm bắp một trong các loại kháng sinh sau, liên tục 3 –5 ngày.
+ Ampiseptryl : 1ml/10 kg thể trọng.
+ Marbovitryl : 1ml/10 kg thể trọng.
+ Penstrep: 1ml/20kg thể trọng
+ Vime-sone : 1ml/10kg thể trọng
– Kết hợp với thuốc kháng viêm như Ketovet 1ml/16kg thể trọng hoặc Dexa VMD liều 1ml/20 kg P.
BỆNH VIÊM TỬ CUNG – ÂM ĐẠO
NGUYÊN NHÂN:
Do nhiễm vi khuẩn khi giao phối do trâu bò đực bị viêm cơ quan sinh dục hoặc thụ tinh nhân tạo không đảm bảo vô trùng và sau khi đẻ khó phải xử lý.
Những vi khuẩn gây viêm tử cung thường gặp : Streptococcus hemolitica, Staphylococcus aureus, Proteus vulgalis, Klebsiella, E.coli…
Viêm tử cung còn do kế phát của bệnh viêm âm đạo và viêm phúc mạc
TRIỆU CHỨNG:
Giai đoạn ủ bệnh, con vật mệt mỏi, ăn ít, sốt cao 40-41oC ,có dấu hiệu đau vùng hông, hay quay đầu lại phía sau, đi lại bồn chồn.
Vài ngày sau, âm hộ chảy dịch nhầy, mùi tanh, chảy liên tục. Nếu không điều trị dịch chảy ra nhiều hơn có lẫn mủ và mùi tanh khẳm. Viêm cổ tử cung, viêm cata có mủ, viêm tắt cổ tử cung, viêm nội mạc tử cung mãn tính, viêm tử cung tích nước, viêm loét tử cung xuất huyết …
Vi khuẩn bám vào niêm mạc tử cung phát triển nhanh về số lượng, gây ra ổ viêm sung huyết, có mủ, gây tróc niêm mạc và xuất huyết. Trường hợp nặng, vi khuẩn xâm nhập vào lớp cơ vòng của tử cung, tạo ra các ổ mủ và dịch thể lan toả trong lòng tử cung, có thể dẫn đến thủng tử cung.
Khó phân biệt được bệnh viêm tử cung và viêm âm đạo. Trong thực tế bệnh viêm tử cung và viêm âm đạo thường xảy ra đồng thời, vì mầm bệnh sẽ lan từ âm đạo sang tử cung và ngược lại.
PHÒNG BỆNH:
– Giữ vệ sinh chuồng trại và bãi chăn thà.
– Tắm chải gia súc hàng ngày, thường xuyên lau rửa cơ quan sinh dục, vùng chân sau, bầu vú bằng Vimekon 1/200.
Định kỳ tiêm poly AD 10ml/con, 2 tháng 1 lần.
– Kiểm tra gia súc hàng ngày để phát hiện bệnh và điều trị sớm.
ĐIỀU TRỊ:
– Dùng dung dịch nước muối hoặc thuốc tím 1/1000 thụt rửa hàng ngày trong 2 –3 ngày.
– Tiêm oxytocin hoặc prostaglin để tống đẩy các dịch tiết, làm sạch tử cung.
– Tiêm bắp một trong các loại kháng sinh sau, liên tục 3- 5 ngày
+ Marbovitryl 1ml/10kg thể trọng.
+ Vime-sone: 1ml/10kg thể trọng
+ Vimefloro F.D.P: 1ml/10kg thể trọng
– Tiêm kháng viêm Ketovet 1ml/16kg trọng lượng hoặc Dexametasone 1ml/20kg trọng lượng
– Tiêm B.Complex 1ml/20kg thể trọng và Poly AD 10ml/con để hồi phục tổ chức niêm mạc.
BẠI LIỆT SAU KHI ĐẺ
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh thường gặp ở bò sữa có năng suất khá, thường kèm theo các triệu chứng thần kinh, nguyên nhân chủ yếu là do hạ can xi huyết. Bệnh thường xảy ra ở gia súc sau khi đẻ từ 1 – 5 ngày.
TRIỆU CHỨNG:
Gia súc có biểu hiện đứng không vững, run cơ, sau đó ngã xuống co giựt, da ướt, mạch nhanh, phản xạ mắt yếu hoặc không còn, đồng tử dãn rộng, da mất cảm giác. Thân nhiệt giảm, đầu nghẹo sang một bên hoặc cúi mặt xuống nền, hôn mê và chết nhanh. Trường hợp nhẹ, gia súc không hôn mê, phản xạ mắt và cảm giác da không mất, đứng dậy rất khó khăn, nằm sấp, đầu hơi quay lại.
PHÒNG BỆNH:
– Chuồng trại rộng rãi đủ chỗ cho gia súc vận động và tắm nắng ban mai.
– Cho gia súc mang thai ăn khẩu phần cân đối dinh dưỡng, treo đá liếm trong chuồng cho gia súc bổ sung tự do chất khoáng.
– Tiêm Poly AD 10ml/con và Vimekat 20ml/con , tiêm 3 – 4 lần trong suốt giai đoạn trâu bò mang thai.
ĐIỀU TRỊ:
– Vắt cạn sữa và bơm không khí vào bầu vú để bò hưng phấn và phục hồi cảm giác và các phản xạ. Chú ý bơm căng vừa phải, dùng dây vải buộc núm vú để giữ không khí khoảng một giờ thì mở ra
– Tiêm tĩnh mạch Vime-calamin 1ml/4kg trọng lượng.
– Cho gia súc nằm nơi khô ráo có lót rơm, trở mình 3 – 4 lần/ngày, nâng tập cho gia súc đứng lên ngày 2 -3 lần, mỗi lần 2 – 3 giờ.
– Tiêm Strychnal –B1 1ml/20kg trọng lượng và các thuốc trợ sức như Vitamin C, B.complex trong quá trình điều trị.
BỆNH KÝ SINH TRÙNG MÁU
NGUYÊN NHÂN:
Bệnh gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho các đàn bò sữa, trâu sữa và dê sữa làm ảnh hưởng đến năng suất sữa, thịt. Bệnh gây ra do biên trùng, có thể ghép giữa bệnh biên trùng – lê dạng trùng và Lepto.
Bệnh phát ra quanh năm nhưng chủ yếu vào các tháng 5, 8-9. Côn trùng như ve, mòng là vật trung gian lây truyền bệnh.
TRIỆU CHỨNG:
Sốt cao 39,5 – 42oC, sốt thành từng cơn kéo dài từ 2-7 ngày, trung bình 3-5 ngày rồi thân nhiệt trở lại bình thường. Sau đó 4-6 ngày lại sốt, sốt thường tăng về chiều có khi cả về đêm. Con vật bỏ ăn, khi sốt miệng chảy nước dãi. Nhu động ruột, dạ dày giảm, có khi ngừng hẳn. Con vật lúc đi táo bón, lúc đi chảy phân lầy nhầy và có lẫn máu.
Chảy nước mũi thở khó, thở dốc , nhịp thở tăng. Con vật gầy nhanh, ủ rũ, các cơ bắp thịt run rẩy. Nếu bệnh kéo dài con vật hôn mê, bại liệt.
Niêm mạc mắt, hậu môn, lúc đầu sung huyết rồi chuyển nhanh sang trắng, vàng nhạt. Cổ, hầu, ức, rốn, bẹn bị thuỷ thủng.
Gia súc mang thai bệnh dễ bị sảy thai, đẻ non, sót nhau.
PHÒNG BỆNH:
Chăn thả gia súc nơi thoáng mát, chống nóng, ẩm về mùa hè, tránh nắng , mưa.
Diệt ve trên gia súc, diệt muỗi, mòng nơi nhốt thả.
Tiêm Tribabe cho trâu, bò, dê nơi có bệnh lưu hành mỗi năm 2 lần vào tháng 5 và tháng 9.
ĐIỀU TRỊ:
– Tiêm bắp Trybabe liều 8 mg/kg thể trọng để diệt ký sinh trùng đường máu và Marbovitryl 1ml/10kg thể trọng để trị nhiễm khuẩn Lepto kết hợp.
– Tiêm thêm Vitamin B12, Vitamin C để tăng sức đề kháng giúp gia súc mau bệnh phục.
– Tiêm Vimekat 20ml/con để phục hồi cơ thể
BỆNH GHẺ
NGUYÊN NHÂN:
Trâu, bò, dê thường mắc bệnh ghẻ do Sarcoptes scabiei, Pseuroptes natalensis và Chorioptes. Ba loại ghẻ này đều ký sinh ở biểu bì của da. Riêng loài Chorioptes thường ký sinh ở vùng móng chân và vành tai .
TRIỆU CHỨNG:
Ghẻ ký sinh và gây ra các đường rãnh trong biểu bì, phá hoại mặt da, gây ngứa mẩn, con vật luôn cọ xát da vào tường và các gốc cây, tạo ra các vết xây xát trên da, làm rụng lông. Trên da nổi mụn đỏ từng đám, mọng nước, tập trung ở những chỗ da mềm như rìa tai, nách, bẹn, quanh vú. Bệnh nặng, các đám da mẩn đỏ có ở hầu hết trên mặt da. Chỗ da ghẻ bị sần sùi và rụng trụi lông.
Trâu bò bị nhiễm trùng thứ phát thường có các mụn mủ trên mặt da. Các mụn mủ vỡ ra, chảy mủ và dịch vàng, tạo ra các vùng lở loét, sau đó sẽ đóng vảy khô màu nâu và lan sang các mụn loét khác. Một số trâu bò bị biến chứng viêm loét vùng vú, dịch hoàn, và viêm tai.
Ở thỏ thường thấy loại ghẻ tai do loài Psoroptes gây ra. Thỏ con theo mẹ và thỏ 1-2 tháng tuổi có thể đã nhiễm ghẻ nhưng ít biểu hiện ra triệu chứng lâm sàng. Từ hai tháng tuổi trở đi bệnh mới phát triển nhanh, thỏ ngứa, rụng lông và đóng vảy. Thỏ ngứa lấy hai chân trước cào vuốt tai vào mồm cắn, lắc đầu, dụi đầu vào thành lồng hoặc đồ vật xung quanh, hai chân trước vẫy vẫy. Ở các điểm ghẻ lúc đầu thấy rụng lông, sau đó thấy các vảy rộp trắng xám, dầy cộp dần lên và khô cứng lại. Đôi khi dưới vảy ghẻ có mủ do nhiễm trùng gây viêm da.
PHÒNG BỆNH:
-Tắm chải gia súc hàng ngày.
– Vệ sinh bãi chăn và chuồng nuôi. Định kỳ phun thuốc diệt côn trùng và tiêu độc chuổng trại định kỳ hàng tháng.
– Kiểm tra thường xuyên đàn gia súc để phát hiện cách ly và điều trị kịp thời.
ĐIỀU TRỊ:
– Tắm chải sạch sẽ ,cọ sạch các vảy ghẻ, để ráo nước, bôi mỡ ghẻ vào chỗ da ghẻ, cách một ngày bôi một lần.
– Tiêm Vimectin: 1ml/ 15kg thể trọng đễ diệt cái ghẻ
– Tiêm Penstrep –suspension 1ml/20kg hoặc Marbovitryl 1ml/10kg thể trọng để phòng nhiễm trùng da
– Cho uống thêm BiotinH AD hoặc tiêm Poly AD để tổn thương da mau hồi phục.
BỆNH CHƯỚNG HƠI
NGUYÊN NHÂN:
Do trâu, bò, dê ăn nhiều cỏ non đầu mùa mưa hoặc ăn các loại thức ăn quá chua, mốc, thối hoặc thay đổi thức ăn đột ngột
TRIỆU CHỨNG:
Gia súc bệnh biếng ăn, không nhai lại, bụng căng lên do tích hơi, vật khó thở. Nếu bệnh nặng, con vật không đứng được, nằm nghiêng, bốn chân bơi đạp, bí đái ỉa.
PHÒNG BỆNH:
– Chú ý nguồn thức ăn của trâu bò.
ĐIỀU TRỊ:
Tuỳ theo mức độ nặng hay nhẹ mà dùng một trong các biện pháp sau:
– Cho đứng chỗ dốc, đầu hường về trên dùng rơm khô hay muối rang bọc giẻ chà xát mạnh lên hông trái và hai bên sườn.
– Lấy 20 nhánh tỏi + 10 lá trầu + 01 chén than củi giã nát, pha với 1 – 2 lít nước dưa cải chua cho bò uống.
– Chích dưới da Pilocarpine 3% từ 6 – 10ml/lần/ ngày, liên tục 2 – 3 ngày.
– Cho uống 50gr muối bicarbonat Na (thuốc tiêu mặn) pha với 2 – 3 lít nước ấm.
Trường hợp bị chướng hơi quá nặng (bò có thể chết), phải cấp cứu bằng cách luồng ống thông vào dạ cỏ qua đường miệng –thực quản hoặc chọc troca vào lõm hông trái (cho hơi thoát ra từ từ) để bò nơi thoáng mát và chích thuốc trợ sức, cho ăn cháo gạo loãng có pha chút muối.
SỐT CATA CẤP TÍNH
Là bệnh cấp tính do herpesvirus , họ phụ Gamma herpesvirinae gây ra trên bò, hươu nai, bò rừng, và trâu với đặc tính gây viêm sưng màng nhầy mũi, mắt, đục giác mạc, dịch mủ mũi và sưng hạch bạch huyết. Tuỳ theo các biểu hiện, có thể chia ra các thể quá cấp, thể ruột, thể đầu-mắt và thể nhẹ. Bệnh không truyền lây sang người.
*Truyền lây: Trực tiếp giữa bò với động vật sơ sinh hoang dã và nhau của những mẹ sắp sinh, hoặc gián tiếp qua nước uống. Ở Mỹ hay Châu Âu bị nhiễm trùng qua cừu
* Triệu chứng: Thời gian ủ bệnh 9 -77 ngày
+ Thể quá cấp: Sốt, Viêm sưng trầm trọng các màng nhầy miệng, mũi và viêm dạ dày ruột xuất huyết với thời gian 1-3 ngày
+ Thể ruột: Sốt, tiêu chảy, sung huyết các màng nhầy miệng, mũi đi cùng với dịch tiết; Viêm sưng hạch kéo đài 4-9 ngày
+ Thể đầu và mắt:Đây là hội chứng đặc trưng của bệnh MCF với sốt, dịch tiết ở miệng, mũi, mắt từ thanh dịch đến nhầy mủ và mủ. Sự đóng vảy ở miệng, mũi xảy ra ở giai đoạn sau gây ra sự cản trở mũi và khó thở, phải thở miệng và dịch chảy. Sung huyết dữ dội và hoại tử lan tràn màng nhầy miệng (thường ở môi, nướu, vòm khẩu cái cứng và mềm) và má.
Triệu chứng ở mắt có thể quy về viêm mắt bao gồm cơn chảy nước mắt kịch phát tiến tới xuất tiết mủ, sợ ánh sáng, sung huyết, phù nề mí mắt kết mạc và thụt vào mạch củng mạc. Đục giác mạc, khởi đầu ở ngoại vi và tiến triển tới trung tâm, kết quả mù từng phần đến mù tổng thể. Có thể thấy mủ tiền phòng. Đực giác mạc thường ở cả 2 mắt nhưng có khi chỉ thấy ở một. Sốt phổ biến và thường ở mức cao (40-41,60 C) cho đến khi gia súc hấp hối thì thân nhiệt hạ. Đặc trưng lâm sàng ở giai đoạn đầu gồm: sự đỏ của da vú, những mảng hình vàng đan nhau và biểu hiện sung huyết của xoang miệng. Gia tăng khát kết hợp với sốt, biếng ăn ở giai đoạn sau. Táo bón thường gặp ở giai đoạn đầu và tiêu chảy ở giai đoạn cuối.
Triệu chứng thần kinh không thấy thường xuyên nhưng có thể biểu hiện sự lo sợ, run rẩy, thất điều vận, và cuối cùng là giật cầu mắt.
Hoại tử tổn thương da được thấy, Lởp phủ sừng, móng có thể bị nới lỏng hay tróc ra ở một số ca. Thể đầu mắt lúc nào cũng đưa đến chết, thường từ 7-18 ngày.
+ Thể nhẹ: Hội chứng nầy thương do nhiễm trùng thí nghiệm ở bò với virus được làm yếu đi và không gây chết.
* Bệnh tích:
– Các trường hợp cấp tính không thể hiện các tổn thương
– Loét giống miệng núi lửa ở mũi, miệng, kết mạc, thực quản và đường tiêu hoá.
– Phổi có thể bị sung huyết, sưng, khí thủng.
– Thận có những vùng trắng .
– Sưng và đỏ nếp gấp dạ múi khế.
– Ruột phù nề, xuất huyết đốm
– Hiện tượng “vằn hổ” ở ngoại vi ruột kết
– Hạch bạch huyết sưng to, đỏ
– Thân thịt mất nước, bạc màu
* Chẩn đoán phân biệt: Lưỡi xanh, Rinderpest, tiêu chảy do virus ở bò, Bệnh màng nhày ở bò, Lở mồm long móng, Viêm dạ dày mụn nước.
* Tỉ lệ bệnh :28-45 %
* Tỉ lệ chết: 90-100%
BỆNH ĐAU BỤNG NGỰA
Nguyên nhân:
Ngựa bị đau bụng có thể là biểu hiện của bệnh Habronemiasis. Bệnh do Habronemiasis với các loài sau: Habronema spp (ấu trùng) ký sinh ở dạ dàyHabronema mucae (dạng trưởng thành) Habronema microstoma (dạng trưởng thành) Habronema megastoma (dạng trưởng thành) Bệnh thường xuất hiện ở vùng có nhiều ngựa, có nhiều ruồi nhà (Musca domestica) mòng (Stomoxys calcitran) trong phân, là nơi thuận lợi cho ruồi sinh sản, bệnh có tính dịch địa phương. Triệu chứng:
Bệnh thể hiện ở 2 thể:
– Thể da:
+ Loét sâu và có các u hạt tăng sinh ở mô
+ Chảy mủ hoặc viêm mạn tính ở da
+ Đau dữ dội
+ Là điều kiện cho sự kế phát của nấm và vi khuẩn
– Thể dạ dày:
+ Đau bụng
+ Tái viêm dạ dày cấp
+ Kém ăn
+ Gầy gò, suy nhược và thiếu máu
Chẩn đoán:
Có thể chẩn đoán phòng thí nghiệm bằng cách:
– Tìm ký sinh trùng: Nạo các nốt sần dưới da (hoặc các vết thương), trộn với nước muối sinh lý, nhỏ lên lame, kiểm tra qua kính hiển vi.
– Tìm trứng: Rửa dạ dày tìm trứng,
Bệnh tích:
– Xung huyết mạnh ở niêm mạc dạ dày
– Habronema ở cả trong và xung quanh vết thương.
– H. megastoma gây những abscess ở thành dạ dày
– H. muscae gây ra hiện tượng dịch nhầy bám chặt và bao phủ dầy đặc niêm mạc dạ dày.
Khống chế bệnh:
– Xử lý, vứt bỏ chất độn chuồng
– Thường xuyên thu dọn phân ngựa.
– Tiêu diệt ruồi bằng Thuốc diệt ruồi (5 gam cho diện tích 10 – 15 m2) ở thành chuồng, dụng cụ, đồng cỏ, phân (1 tuần/ lần). Dùng thuốc rãi đều lên khai hoặc đĩa đặt nơi có ruồi. Có thể trộn thêm mật, đường để dẫn dụ ruồi tốt hơn.
Điều trị bệnh:
– Bảo vệ da ngựa tránh tổn thương: Dùng Vime – Blue phun lên vết thương để tránh nhiễm trùng, cho vết thương mau khô, nhanh lành. Có thể sử dụngVime-Iodine pha 1 % ( 10 ml trong 1 lít nước) để sát trùng vết thương.
– Dùng Vimectin 0,3 % tiêm cho ngựa liều 1ml/ 15 kg thể trọng (200µg/ kg thể trọng)
– Dùng Moxidectin 400 µg/kg trị Habronema spp ở dạ dày
BỆNH CẦU TRÙNG THỎ
Cầu trùng thể viêm gan
1. Nguyên nhân: do Eimeria stiedae
2. Sự truyền lây: các nang bào tử ở đường tiêu hoá là các thể truyền lây. Mức độ nhiễm trùng từ trung bình tới cao.
3. Xâm nhập: Eimeria stiedae đóng ở tá tràng, di chuyển tới gan sống trong máu hay hệ bạch huyết và xâm nhập tế bào biểu mô của ống mật để bắt đầu giai đoạn sinh sản vô tính.
4.Triệu chứng lâm sàng: triệu chứng chủ yếu ở thỏ nhỏ, bao gồm chán ăn, suy yếu, bụng rủ thong với các nốt gan to khi sờ nắn qua vách bụng. Tử số thấp trừ khi bệnh ở thỏ con.
5.Bệnh học: Gan to với nhiều ổ viêm, dẹt, thương tổn màu vàng – trắng chứa chất xuất tiết màu vàng, đôi khi túi mật căng chứa đầy mật khi mổ khám. Tổn thương vi phẩu đặc trưng của bệnh là tạo nên các sợi sơ hoá quanh tĩnh mạch cửa gan quanh ống mật bị sưng nối với biểu mô ống mật tăng sản chứa các tế bào viêm thâm nhiễm, các đại giao tử, tiểu giao tử, và kén E.stiedae
6. Chẩn đoán:
– Xét nghiệm phân bằng cách phết kính trực tiếp
– Mổ khám tử, tìm các tổn thương trên gan, ống mật, xác định kén trong ống mật, …
7. Điều trị:
– Tẩy cầu trùng: . Vicox Toltra 1ml/ pha trong 2-3 lít nước uống hoặc . Vimecox ESP3 : 1 gam / 5 kg thể trọng
– Kết hợp: chọn một trong các loại sau:
– Sulfamerazine: pha 0,02 % trong nước)
– Sulfaquinoxaline: pha 0,05 % trong nước hay 0,03 % trong thức ăn
– Sulfamethoxine : 75 mg/kg thể trọng trong thức ăn dùng 3 tuần/ nghỉ 3 tuần
Cầu trùng thể viêm gan khó thải trừ với liệu pháp kháng cầu trùng, cần kết hợp thuốc hổ trợ điều trị viêm gan như
* Goliver: 1ml/ 10 kg thể trọng, tiêm bắp, mỗi tuần tiêm 2 lần
* Vimekat Plus: 4-5 ml/ lít nước uống
8. Phòng bệnh: Thiết kế chuồng thỏ sao cho thỏ không tiếp xúc với sàn, chuồng cần được quét dọn phân, tẩy sạch hàng ngày với thuốc sát trùng. Tách riêng thỏ con với thỏ trưởng thành. Cho ăn cỏ tươi, cỏ khô, cỏ dự trử chú ý sự lây lan bệnh từ phân thỏ hoang.
B. Cầu trùng thể ruột:
1. Nguyên nhân: Eimeria magna, E. irresidua, E. perforans, E. media là những chủng thường xuyên gây bệnh được phát hiện. Tất cả các loài trên nhiễm trên đường ruột và sinh sản ở biểu mô hấp thu của niêm mạc.
2. Truyền lây: Truyền lây xảy ra do các nang bào tử ở đường tiêu hoá. Mức nhiễm trùng cao.
3. Triệu chứng lâm sàng: Triệu chứng đa dạng và hầu hết là nặng nế ở thỏ con. Tăng trọng giảm, tiêu chảy từ có dịch nhầy đến tiêu chảy nước và tiêu chảy máu, khát nhiều và thỉnh thoảng chết cấp tính. Thỏ lớn hơn có thể bài thải nang kén cầu trùng khi không thể hiện rõ triệu chứng bệnh.
4. Bệnh tích: Dịch ruột của thỏ thường chứa nhiều ký sinh trùng. Có thể thấy nhiều mảnh trắng hay nốt loét trên bề mặt niêm mạc ở ruột non và ruột già.
5. Chẩn đoán:
– Chẩn đoán trước khi chết có thể thực hiện bằng cách xét nghiệm phân
– Chẩn đoán sau chết có thể thực hiện qua kiểm tra niêm mạc ruột
6. Điều trị:
– Tẩy cầu trùng: . Vicox Toltra 1ml/ pha trong 2-3 lít nước uống hoặc . Vime ESP 3 : 1 gam / 5 kg thể trọng
– Kết hợp trị kế phát: . Vime floro FDP: 1ml/ 5 kg thể trọng . Kết hợp Septryl 240 : 1ml/ 10 kg thể trọng Có thể pha chung, ngày tiêm 1 lần, liên tục 3- 5 ngày
– Trị triệu chứng: . Atropin; 1ml/ 7 kg thể trọng (ngừng ngay khi hết tiêu chảy) . Vitamin K: 1ml/ 7 kg thể trọng (1-2 liều) . Vime Canlamin: 1ml/ 5 kg thể trọng
– Sau khi khỏi bệnh bổ sung men tiêu hoá 1-2 ngày : Vime -6-way: 1gam/ 3-5 kg thể trọng hoặc 1gam/ ½ lít nước hoặc 1gam/ 250 gam thức ăn, hoặc Vime subtyl (phối hợp như trên) , hoặc Prozyme (phối hợp như trên)
7. Kiểm soát bệnh: (giống như thể viêm gan )

Thông tin sưu tầm!

Chia sẻ